
Với bệnh nhân tiểu đường týp 1 phải tiêm insulin thường xuyên, thiết bị đo đường huyết liên tục (CGM) là công cụ then chốt giúp không bỏ lỡ các biến động đường huyết.
Nhiều bệnh nhân tiểu đường nói cuộc sống của họ thay đổi rất lớn trước và sau khi thiết bị đo đường huyết liên tục xuất hiện. Trước đây, để theo dõi biến động đường huyết, họ phải chích đầu ngón tay suốt cả ngày để “lấy máu”, vì khi đó cách duy nhất là lấy máu ở đầu ngón tay để đo đường huyết.
Thông thường, bệnh nhân tiểu đường được khuyến cáo đo đường huyết ngay sau khi thức dậy và trước – sau bữa ăn. Theo đó, người ăn ba bữa mỗi ngày phải lấy máu tối thiểu 7 lần/ngày.
Thứ tạo ra thay đổi lớn chính là thiết bị đo đường huyết liên tục. Thiết bị này gắn một cảm biến siêu nhỏ lên da, tự động đo biến động đường huyết theo thời gian thực. Chỉ cần gắn cảm biến một lần, thiết bị có thể đo đường huyết trong 24 giờ với khoảng cách 1–5 phút/lần.
Thiết bị đo đường huyết liên tục giúp giảm cả biến chứng lẫn nguy cơ tử vong
Thiết bị đo đường huyết liên tục không chỉ giúp cải thiện kiểm soát đường huyết. Trên thực tế, thiết bị này còn làm giảm đáng kể nguy cơ biến chứng do tiểu đường và cả nguy cơ tử vong ở bệnh nhân.
Nhóm nghiên cứu của Bệnh viện Samsung Seoul và Viện Khoa học Y học Hội tụ Samsung đã phân tích nguy cơ biến chứng và tử vong theo việc có sử dụng thiết bị đo đường huyết liên tục ở 17.018 bệnh nhân tiểu đường trưởng thành. Trong đó, nhóm dùng thiết bị và nhóm không dùng thiết bị đều gồm 8.509 người.
Kết quả cho thấy, so với nhóm không dùng, nhóm dùng thiết bị đo đường huyết liên tục giảm đáng kể nguy cơ xuất hiện biến chứng.
Khi bệnh nhân tiểu đường thiếu insulin, cơ thể không thể sử dụng glucose làm năng lượng và sẽ phân giải mỡ để thay thế. Khi đó, các chất có tính axit gọi là “thể ceton” tích tụ trong máu và có thể đe dọa tính mạng. Tình trạng này được gọi là “nhiễm toan ceton do tiểu đường”; nguy cơ xảy ra biến chứng này ở nhóm dùng thiết bị đo đường huyết liên tục thấp hơn 60%.
Nguy cơ xuất hiện bệnh thận giai đoạn cuối cũng thấp hơn 57% ở nhóm dùng so với nhóm không dùng. Bệnh thận giai đoạn cuối là tình trạng chức năng thận (thận) giảm xuống dưới 10% mức bình thường, khiến cơ thể không thể thải chất cặn bã và nước.
Nguy cơ mắc các bệnh tim mạch thấp hơn 72% ở nhóm dùng, và nguy cơ tử vong cũng được ghi nhận thấp hơn 62% ở nhóm dùng.
Bảo hiểm y tế chỉ áp dụng cho bệnh nhân tiểu đường týp 1
Hiện nay, bảo hiểm y tế chỉ áp dụng cho bệnh nhân tiểu đường týp 1. Ở nhóm này, tế bào beta của tuyến tụy bị phá hủy nên gần như không tạo được insulin hoặc thiếu insulin tuyệt đối. Họ bắt buộc phải tự tiêm insulin thì mới có thể kiểm soát đường huyết.
Ngược lại, tiểu đường týp 2 là bệnh mà insulin không được tiết ra đúng cách hoặc dù có tiết ra cũng không phát huy tác dụng. Sự suy giảm tiết insulin và tình trạng kháng insulin cùng tác động, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như di truyền, tuổi tác, cân nặng, mức độ hoạt động… Nhóm bệnh nhân này đến nay vẫn chưa được áp dụng bảo hiểm y tế.
Vấn đề là hơn 90% bệnh nhân tiểu đường tại Hàn Quốc là bệnh nhân tiểu đường týp 2. Vì vậy, hiệu quả giảm gánh nặng chi phí y tế quốc gia do tiểu đường gây ra trên thực tế là không đáng kể.
Cách hỗ trợ cũng liên tục bị chỉ ra bất cập. Hiện nay, bệnh nhân trưởng thành được hỗ trợ 70% chi phí mua, còn bệnh nhân dưới 19 tuổi được hỗ trợ 90%. Tuy nhiên, đây không phải là mua với giá đã giảm. Người bệnh phải nộp hồ sơ yêu cầu chi trả chi phí điều trị cho cơ quan bảo hiểm để được hoàn tiền. Rốt cuộc, việc cần một khoản tiền lớn ngay tại thời điểm điều trị vẫn không thay đổi.
Giáo sư Kim Jae-hyun, Khoa Nội tiết – Chuyển hóa, Bệnh viện Samsung Seoul, người dẫn dắt nghiên cứu, cho biết: “Việc sử dụng thiết bị đo đường huyết liên tục là một phương tiện quan trọng giúp bệnh nhân tiểu đường giảm nguy cơ tử vong và phòng ngừa biến chứng”. Ông nói thêm: “Nếu trong thời gian tới, việc mở rộng hỗ trợ của bảo hiểm y tế và giáo dục cho bệnh nhân tiểu đường được triển khai song song, điều đó sẽ giúp cải thiện đáng kể tiên lượng dài hạn”.
