Đức-Charité: Khởi đầu cải cách trường y 'Hãy cho chúng tôi những giờ học vì bệnh nhân'

| Đăng ngày:

Hành trình đến hiện trường đổi mới giáo dục y khoa toàn cầu (1) Charité, 315 năm truyền thống — đào tạo 'bác sĩ giải quyết vấn đề tại hiện trường'


“Chỉ dạy lý thuyết mà không được gặp bệnh nhân.”

Tiếng thét này của sinh viên, những người đã tẩy chay các bài giảng, đã trở thành điểm khởi đầu để chuyển chương trình học của trường y hàng đầu nước Đức từ giảng đường ra giường bệnh. Chuyện xảy ra tại Trường Y Charité ở Đức vào năm 1989.

Charité là một nơi như thế nào? Được khai trương theo lệnh của Vua Phổ Friedrich I năm 1710, nơi đây hiện phát triển với 4 khuôn viên, 17 trung tâm, khoảng 100 phòng khám chuyên khoa, 3.000 giường bệnh và hơn 15.500 nhân viên (trong đó có hơn 4.400 bác sĩ kiêm nhà khoa học). Dấu ấn của các bác học y khoa danh tiếng thế kỷ 19 như Rudolf Virchow và Robert Koch vẫn còn đây, và hơn một nửa số người đoạt giải Nobel về sinh lý học - y học của Đức từng có mối liên hệ với Charité. Là đối tác của Quỹ Einstein, đây là một hệ sinh thái tri thức rộng lớn, nơi các nhà nghiên cứu và lâm sàng từ khắp nơi trên thế giới đến và trao đổi.

Tại chính nơi được coi là một trong những trường y tốt nhất châu Âu này, công cuộc cải cách giáo dục nhằm đào tạo “bác sĩ thực sự vì bệnh nhân” đã được tiến hành suốt nhiều thập kỷ.

Trên con đường dẫn tới cổng chính Charité ở Berlin, tượng của bậc thầy nhãn khoa hiện đại Albrecht von Graefe đón khách. Trên bệ đá có khắc câu: “Ánh sáng của mắt là món quà của trời, mọi sinh vật sống nhờ ánh sáng. Mọi sinh linh hạnh phúc, ngay cả thực vật, đều hướng mình về ánh sáng với niềm vui.” Ảnh: Phóng viên Won Jong-hyeok
Trên con đường dẫn tới cổng chính Charité ở Berlin, tượng của bậc thầy nhãn khoa hiện đại Albrecht von Graefe đón khách. Trên bệ đá có khắc câu: “Ánh sáng của mắt là món quà của trời, mọi sinh vật sống nhờ ánh sáng. Mọi sinh linh hạnh phúc, ngay cả thực vật, đều hướng mình về ánh sáng với niềm vui.” Ảnh: Phóng viên Won Jong-hyeok

Ngày 14/8, khi tôi đến thăm Charité, sương mù buổi sáng lùa qua những tòa nhà gạch đỏ dọc bờ sông Spree ở Berlin. Tôi đi gặp Giáo sư Ham Peters, người dẫn dắt công cuộc cải cách ở Charité. Ông là Chủ tịch Hiệp hội Trường Y châu Âu (AMSE) và thành viên điều hành của Liên đoàn Giáo dục Y khoa Thế giới (WFME); tại Charité ông còn là Giám đốc Trung tâm Giáo dục Y khoa và Nghiên cứu Giáo dục của Dieter Scheffner.

Mở cửa phòng làm việc ở tầng 2 khu nhà giáo sư, tôi thấy những ô cửa sổ rộng hướng về tòa giảng đường đối diện được mở toang. Giáo sư Peters ngồi xuống, lấy hơi rồi thốt câu đầu tiên.

“Quá trình trở thành bác sĩ không phải là việc tích lũy kiến thức mà là việc hiểu bệnh nhân.”

Câu nói nghe như tuyên ngôn ấy thực ra là bản thiết kế cho cải cách. Giáo sư Peters đã viết lại toàn bộ quá trình đại phẫu giáo dục y khoa mà ông quan sát được và chia sẻ với thế giới trên tạp chí giáo dục y tế quốc tế Medical Teacher. Tựa đề bài báo là “Di chuyển một ngọn núi: Những hiểu biết thực tiễn trong việc thực hiện cải tổ chương trình giảng dạy lớn ở một trường y đại học lớn châu Âu (Moving a mountain: Practical insights into mastering a major curriculum reform at a large European medical university)”. Trải nghiệm tưởng như dời núi ấy chính là hành trình đào tạo những bác sĩ thực sự hiểu bệnh nhân, chứ không chỉ có kiến thức.

“Chỉ có bài giảng mà không có bệnh nhân”: Câu hỏi từ cuộc tẩy chay của sinh viên Nguyên nhân ty chay năm 1989 rt đơn gin. Bài ging dày đc nhưng cơ hi gp bnh nhân ti giường bnh và hc thc hành bng tay rt hiếm. Vic dy ti giường bnh cũng mang tính hình thc. Trong cu trúc truyn thng phân tách ging dy và thc hành, “sinh viên làm bài thi tt” được khen ngi, còn “sinh viên gii thích tt trước bnh nhân và thc hin th thut mt cách thn trng” li không được đánh giá xng đáng.

Đối din vi phàn nàn ca sinh viên, nhà tr  ường ngay lp tc th nghim. Trước hết, h chn 10% tng s sinh viên và m chương trình th nghim hc theo vn đ (problem-based learning - PBL) không ch dy bnh lý đơn thun mà đào sâu phân tích ca bnh t nhiu góc đ. Các k năng giao tiếp vi bnh nhân, làm vic nhóm và k năng lâm sàng được hun luyn mt cách h thng.

Điu gì đã thay đi? H đt cùng mt câu hi cho sinh viên theo chương trình cũ và sinh viên trong chương trình th nghim: “Bn đã sn sàng làm bác sĩ ngay ngày mai chưa? Ch có 20% sinh viên chương trình cũ tr li “Có”, trong khi 70% sinh viên chương trình đổi mi nói “Có”.

Con s đó đã lay đng đi ngũ ging viên. Giáo sư Peters hi tưởng rng câu hi “Liu sinh viên có cm thy mình đã sn sàng hay không?” chính là đim khi đu ca ci cách.

Gương mặt ông Ham Peters ngồi trước bàn nhìn thẳng trông rất kiên quyết. “Chúng tôi hỏi trước xem ‘Họ có thể làm gì một cách an toàn’ chứ không chỉ ‘Họ biết gì’.” Ảnh: Phóng viên Won Jong-hyeok
Gương mặt ông Ham Peters ngồi trước bàn nhìn thẳng trông rất kiên quyết. “Chúng tôi hỏi trước xem ‘Họ có thể làm gì một cách an toàn’ chứ không chỉ ‘Họ biết gì’.” Ảnh: Phóng viên Won Jong-hyeok

Nhưng không ch ý chí là đ đ gii quyết vn đ suôn s. Đức, quy đnh nhà nước v đào to y khoa bc đi hc mang tính ràng buc cao. Nếu Charité mun thay đi giáo dc, h phi bt đu t vic điu chnh quy đnh quc gia. Hơn na, còn có nhng ging viên tin rng phương pháp cũ là đúng, dn ti nhng cuc đàm phán và tranh lun kéo dài. Vi 600 sinh viên tuyn mi năm và tng quy mô khong 4.000 sinh viên, vic thay đi chương trình ging dy mt t chc như vy là công vic “di núi” theo li Giáo sư Peters.

Ông Peters nói “Ci cách không ch da vào các bng kế hoch.” Cn có năng lc lãnh đo, cơ s bng chng rõ ràng và k năng chính tr đ thuyết phc các bên liên quan. Khi phm vi thay đi ln, s kháng c là đương nhiên. Điu quan trng là đi thoi không ngng vi nhng người phn đi đ biến h thành đng minh. Giáo sư Peters k ông tng nhiu ln chng kiến người phn đi gay gt dn tr thành người dn dt ci cách theo thi gian.

Hệ thống tích hợp 6 năm xóa bỏ tiền lâm sàng - lâm sàng: Thay giải bài tập bằng “Giải quyết bệnh nhân”

Đồng h cho cuc ci t toàn din chương trình quay rt chm. Sau hơn mt thp k tích lũy kinh nghim t chương trình th nghim, Charité b phân bit y tin khoa (2 năm) và y chính quy (4 năm) và t 2009–2010 áp dng chương trình tích hp 6 năm cho toàn b tân sinh viên. Ct lõi là “Chương trình Y mô-đun (Modular Curriculum of Medicine). H xác đnh trước nhng kiến thc, k năng và thái độ mà sinh viên phi có khi tt nghip, ri thiết kế chương trình ngược t mc tiêu đó đ năng lc ca người hc tăng dn theo tng năm. Thay vì xếp tng môn ri rc, h đt các vn đ thc tế ca bnh nhân vào trung tâm và tích hp ging dy cơ s vi lâm sàng.

Ví d, khi x lý ca bnh “bnh nhân ri lon chc năng cơ tim, h s kết hp gii phu, sinh lý, bnh hc, dược lý và thc hành tim mch vào mt chui ging dy duy nht. Không còn dy theo môn, mà theo các tình hung bnh nhân đa dng.

Khung cnh ging đường hoàn toàn thay đi. Ngay t hc k đu, sinh viên tp phng vn bnh nhân theo nhóm nh 7–8 người, hai ln mi tun tham gia các bui hc theo vn đ (POL) đ cùng nhau gii quyết ca lâm sàng. Thông qua mt hi tho dài tên “Giao tiếp, Tương tác và Năng lc làm vic nhóm (Kommunikation, Interaktion und Teamfähigkeit)”, h lp li vic rèn luyn “cách chuyn thut ng chuyên môn thành ngôn ng đi thường” và “cách điu phi xung đt trong nhóm liên ngành”.

Qua khung cửa văn phòng giảng viên mở toang, tòa giảng đường hiện ra. Những ô cửa lớn và nhiều là biểu tượng cho hướng giáo dục mà Charité chọn: không phải giảng đường đóng kín mà là hiện trường mở. Sinh viên từ học kỳ 1 đã ra khoa lâm sàng gặp bệnh nhân và giải quyết vấn đề qua huấn luyện giao tiếp. Giáo sư Peters đang chỉ về phía tòa giảng đường. Ảnh: Phóng viên Won Jong-hyeok
Qua khung cửa văn phòng giảng viên mở toang, tòa giảng đường hiện ra. Những ô cửa lớn và nhiều là biểu tượng cho hướng giáo dục mà Charité chọn: không phải giảng đường đóng kín mà là hiện trường mở. Sinh viên từ học kỳ 1 đã ra khoa lâm sàng gặp bệnh nhân và giải quyết vấn đề qua huấn luyện giao tiếp. Giáo sư Peters đang chỉ về phía tòa giảng đường. Ảnh: Phóng viên Won Jong-hyeok

Những gì học bằng đầu được luyện thành hành động trong kỳ nghỉ. Bắt đầu bằng thực hành điều dưỡng, sang thực hành lâm sàng sinh viên luân phiên qua các chuyên khoa, theo sát các bác sĩ như hình bóng. Chương trình tổ chức các buổi học, hội thảo và thực hành xoay quanh “bệnh nhân của tuần” để liên kết các nội dung lại với nhau.

Giáo sư Peters giải thích: “Chúng tôi thiết kế giáo dục để kiến thức học bằng đầu được chuyển hóa thành kỹ năng thực hành một cách vững chắc. Sinh viên trải qua quá trình này và sớm học được cách nói bằng ngôn ngữ của bệnh nhân.”

Mun Da-un, bác sĩ chuyên khoa Tâm thần tại Bệnh viện Đại học Zurich, người tốt nghiệp Charité, mô tả cách dạy của Charité là “luyện tập nhìn vào bối cảnh cuộc sống của bệnh nhân”. Ông nói: “Tôi học cách không chỉ nhìn bệnh mà còn lắng nghe cả cuộc sống của bệnh nhân, và từ đó hiểu trọng lượng của giao tiếp. Trải nghiệm đó đã định hình thái độ khám chữa bệnh của tôi ngày nay.”

Điều quan trọng hơn bài thi viết là “năng lực thực tế”

Hệ thống đánh giá cũng thay đổi. Bảo lưu bài thi viết, nhưng đưa vào các thành phần quan trọng như kỳ thi lâm sàng có cấu trúc khách quan (OSCE), khám chữa bệnh giả lập, bài tập xây dựng kế hoạch điều trị, năng lực giao tiếp và đánh giá hồ sơ (portfolio).

Một khái niệm mà Charité đưa vào là EPA (Entrustable Professional Activities - Những hoạt động chuyên môn có thể tin tưởng giao phó). Họ chia “những việc bác sĩ làm mỗi ngày” thành các đơn vị công việc để đánh giá mức độ sinh viên thực tập có thể thực hiện công việc đó an toàn và độc lập đến đâu: thu thập tiền sử bệnh, thăm khám thể chất, kê đơn và ghi chép, giải thích với bệnh nhân và gia đình, các thủ thuật nhất định v.v. Dựa trên kết quả đánh giá, mức độ giám sát của người hướng dẫn được giảm dần theo từng bước.

Giáo sư Peters giải thích: “Ban đầu học viên thực hiện cùng giảng viên, sau đó thực hiện trong cùng phòng với giảng viên giám sát, khi đã thành thạo thì giám sát giảm xuống thành ‘gọi khi cần’. Cách ủy quyền theo từng bước này làm rõ kỳ vọng theo từng năm và dẫn tới cải thiện năng lực thực tế.” Họ hỏi trước tiên xem sinh viên “có thể làm gì một cách an toàn” hơn là chỉ hỏi “họ biết gì”.

“Cả giảng viên lẫn sinh viên đều là những người thiết kế cải cách”

Điều khiến cuộc cải cách lớn và kéo dài này khả thi là sức mạnh của “quản trị mở”. Mỗi năm có khoảng 2.500 giảng viên tham gia vào giáo dục y khoa ở Charité, trong đó khoảng 300 người là giáo sư. Quá trình thiết kế mô-đun được mở hoàn toàn cho giảng viên và sinh viên. Sinh viên trở thành đồng chịu trách nhiệm của mô-đun, tham gia cùng lên kế hoạch lớp học, phương pháp giảng dạy và đánh giá. Mâu thuẫn được giải quyết thông qua thảo luận nội bộ mô-đun và ủy ban lãnh đạo khoa, tài liệu học, lịch trình và hướng dẫn đánh giá được công khai minh bạch trên nền tảng web. Nhà trường còn có chương trình phát triển giảng viên cho những người chưa quen phương pháp dạy mới. Niềm tin rằng không có văn hoá “làm cùng nhau” thì cải cách sẽ không bền vững là nền tảng của họ.

Kết quả thế nào? Sau khi áp dụng toàn diện chương trình tích hợp 6 năm, mức “cú sốc khi bước vào thực tế lâm sàng” ở năm thực tập cuối cùng (PJ - Praktisches Jahr) giảm rõ rệt. Những sinh viên vào khoa lâm sàng ngay sau một tháng nhập học và thực hiện phỏng vấn bệnh nhân cho biết đến năm cuối họ không còn ngỡ ngàng mà thấy quen thuộc khi đối diện bệnh nhân. Sinh viên sớm biết rõ “việc họ có thể đảm đương” là gì và lớn lên từ đó. Cách nói khi giải thích trước bệnh nhân, độ chính xác trong kê đơn và ghi chép, tới những thủ thuật nhỏ đều biến đổi thành ngôn ngữ hòa nhịp với bệnh nhân. Thay vì những sinh viên học vẹt câu hỏi và đáp án, bắt đầu xuất hiện những sinh viên biết áp dụng thuyết phục những gì đã học trước mặt bệnh nhân.

Mun Da-un, bác sĩ chuyên khoa, cho biết trong số các bạn cùng khoá có người không theo con đường lâm sàng mà là làm công tác chính sách hay báo chí. Áp lực phải trở thành bác sĩ sau khi ra trường không quá lớn. Có nhiều lối đi như nghiên cứu, chính sách y tế, báo chí, thông tin y tế; sinh viên có thời gian đủ để khám phá nhiều khả năng nghề nghiệp khi còn học. Trở thành giảng viên y cũng không còn là đặc quyền mà chỉ là một hướng nghề trong đó bác sĩ tiếp tục làm nghiên cứu và giảng dạy.

Tòa nhà khoa lâm sàng cao 21 tầng vươn lên ở giữa, cầu đi bộ kính nối bệnh viện với các khu giáo dục và nghiên cứu. Giữa tòa giảng đường theo phong cách cổ điển và tòa nhà chính hiện đại, xe buýt vàng và người đi bộ qua lại, thể hiện cuộc sống nơi giao thoa cũ - mới của khuôn viên. Ảnh: Phóng viên Won Jong-hyeok
Tòa nhà khoa lâm sàng cao 21 tầng vươn lên ở giữa, cầu đi bộ kính nối bệnh viện với các khu giáo dục và nghiên cứu. Giữa tòa giảng đường theo phong cách cổ điển và tòa nhà chính hiện đại, xe buýt vàng và người đi bộ qua lại, thể hiện cuộc sống nơi giao thoa cũ - mới của khuôn viên. Ảnh: Phóng viên Won Jong-hyeok

Những thách thức mà Giáo sư Peters nêu ra còn lại như sau.

“Thứ nhất, thực tế là bệnh nhân ở bệnh viện hoặc phòng khám ngoại trú gặp nhiều bác sĩ khác nhau mỗi ngày cũng tồn tại trong môi trường giáo dục. Phải tìm cách đưa tính liên tục của mối quan hệ bác sĩ-bệnh nhân vào thiết kế giáo dục. Thứ hai, các gia sư hỗ trợ học tập bằng trí tuệ nhân tạo (AI) cho sinh viên được dự báo sẽ sớm đi vào thực tiễn. AI có thể bổ sung thời gian giảng dạy giới hạn để hỗ trợ học cá nhân hóa, nhưng cần thêm bằng chứng về hiệu quả và giới hạn. Hiện vẫn chưa thể khẳng định AI sẽ thay thế bác sĩ, nhưng điều then chốt là AI bổ sung “khám chữa bệnh tốt” ở đâu và như thế nào. Thứ ba, kiến thức không còn là độc quyền của giảng viên nữa. Cần kết nối chặt chẽ các thực địa y tế tuyến 1, 2, 3 để học tập có thể diễn ra ở mọi nơi với chất lượng tương đương.”

Cải cách tại Trường Y Charité ở Đức, bắt đầu từ cuộc tẩy chay của sinh viên năm 1989, sau khi được áp dụng toàn diện vào 2010, giờ đang cho thấy kết quả tại hiện trường. Bên cạnh bệnh nhân, trong lời nói và cử chỉ của sinh viên. Việc dời núi, thật sự, đang diễn ra.

Giáo sư Ham Peters 

1987 tt nghip Đại hc T do Berlin và năm 1998 được cp chng ch chuyên khoa Ni (chuyên sâu v Thn hc), sau đó năm 2000 ông được b nhim là giáo sư Ni khoa ti Charité. T 2003 ông dn dt y ban chương trình ci cách giáo dc ca Charité vi vai trò y viên và phó ch tch, đã ph trách tng th vic vn hành chương trình đào to và các d án đi mi giáo dc. T 2013 ông là Ch tch y ban “Hot đng ging dy ca sinh viên” ca Hip hi Giáo dc Y khoa Đức (GMA) tham gia hi đng qun tr, và năm 2015 được bu làm thành viên điu hành ca Hip hi Trường Y châu Âu (AMSE) ri được bu làm Ch tch năm 2020. Hin là thành viên điu hành ca Liên đoàn Giáo dc Y khoa Thế gii (WFME), ông góp sc trong vic chun hóa giáo dc y khoa và xây dng ch s qun lý cht lượng chăm sóc bnh nhân.

H tr phiên dch và tác nghip: Thông dịch viên Choi Won-tak

H tr tác nghip: Bác sĩ chuyên khoa Tâm thần Mun Da-un, Bnh vin Đại hc Zurich, Thy Sĩ (tt nghip Đại hc Y Charité)

#Bài viết này được hỗ trợ bởi Quỹ Phát triển Báo chí được hình thành từ phí quảng cáo chính phủ.

×