
Đau nhói vùng chậu, ra vào nhà vệ sinh hàng chục lần mỗi ngày. Càng nhiều nước tiểu dồn vào bàng quang, cơn đau càng tăng; đi tiểu xong thì dịu bớt - đó là những biểu hiện điển hình của viêm bàng quang kẽ.
Thế nhưng khi thăm khám, nhiều trường hợp lại không ghi nhận bất thường rõ rệt. Không ít bệnh nhân kiệt sức vì chạy chữa nhiều nơi với các triệu chứng như vậy. Với căn bệnh lâu nay chưa rõ nguyên nhân và gần như không có biện pháp can thiệp hiệu quả, một nhóm nghiên cứu tại Hàn Quốc đã xác định được mạng lưới tín hiệu giữa các tế bào.
Bệnh viện Samsung Seoul ngày 16 cho biết nhóm nghiên cứu do các giáo sư Kang Min-yong và Ko Kwang-jin (Khoa Tiết niệu) dẫn dắt đã xác nhận mạng lưới tín hiệu tế bào liên quan đến sự khởi phát của viêm bàng quang kẽ (hội chứng đau bàng quang). Nghiên cứu được đăng trên tạp chí quốc tế “Experimental & Molecular Medicine〉〉 ngày 03-07.
Vì sao vừa khó nhịn tiểu, vừa khó không nhịn tiểu?
Viêm bàng quang kẽ xảy ra khi lớp thành trong của bàng quang bị tổn thương và tình trạng viêm kéo dài. Người bệnh đau vùng chậu dữ dội, đi tiểu nhiều lần và ngày càng khó nhịn tiểu. Đây được xem là một trong những bệnh điển hình khó điều trị.
Trước đây, nguyên nhân chính xác gây bệnh vẫn chưa được làm rõ. Đó là lý do chưa có phương pháp điều trị tận gốc. Triệu chứng lại khác nhau tùy từng bệnh nhân, khiến việc điều trị càng khó khăn.
Vấn đề nằm ở cách chẩn đoán. Các nghiên cứu trước chủ yếu phân loại bệnh dựa trên tổn thương nhìn thấy được qua nội soi. Chúng không thể giải thích vì sao và bằng cách nào từng tế bào một lại gây ra bệnh.
Nhóm nghiên cứu đã xem xét những bệnh nhân nào? Đối tượng nghiên cứu là 8 bệnh nhân nặng, triệu chứng không cải thiện dù đã điều trị nội soi lặp lại, cuối cùng phải phẫu thuật cắt bỏ và tạo hình mở rộng bàng quang. Tất cả đều thuộc thể “Hunner”, được xác nhận có tổn thương dạng loét trên nội soi, còn gọi là “tổn thương Hunner”. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu thu thập mô bàng quang bình thường từ 2 người phẫu thuật vùng chậu vì lý do khác để làm nhóm đối chứng.
Trong 8 bệnh nhân, 5 người được lấy đồng thời mô ở vùng có tổn thương Hunner và vùng trông có vẻ bình thường trong cùng một bàng quang để ghép cặp so sánh. 3 người còn lại chỉ thu được mô tổn thương Hunner. Vì vậy, kết quả nghiên cứu lần này không thể áp dụng nguyên trạng cho toàn bộ bệnh nhân viêm bàng quang kẽ. Bởi mạng lưới tín hiệu tế bào được xác nhận là từ mô của nhóm bệnh nhân thể Hunner nặng đến mức phải phẫu thuật.

Xác nhận “mạng lưới đa tế bào” trao đổi tín hiệu
Nhóm nghiên cứu thay đổi cách phân tích. Khác với trước đây chỉ tách một phần niêm mạc, lần này họ lấy trọn cả thành bàng quang đến lớp bên trong. Loại mô này được gọi là mô “toàn lớp”. Cách làm này tỉ mỉ hơn nhiều so với các nghiên cứu trước vốn chỉ lấy một phần niêm mạc.
Nhóm cũng bổ sung hai công nghệ mới nhất. Một là công nghệ "phiên mã đơn tế bào" - đọc gen của từng tế bào một. Hai là công nghệ “phiên mã không gian độ phân giải cao”, xác định cả vị trí của tế bào trong mô. Tuy nhiên, lần đầu triển khai phân tích phiên mã không gian, một phần mẫu gặp vấn đề chất lượng nên số mẫu thực sự dùng cho phân tích không nhiều.
Kết quả cho thấy trong mô bàng quang, các tế bào đang trao đổi tín hiệu với nhau. Đó là tế bào mô đệm tạo nên mô liên kết, tế bào miễn dịch bảo vệ cơ thể, và tế bào mạch máu tạo nên mạch máu. Ba loại tế bào này đan xen phức tạp, trao đổi tín hiệu với nhau tạo thành "mạng lưới đa tế bào".
Tại vùng tổn thương, số lượng “tế bào Th17” - tế bào miễn dịch dẫn dắt phản ứng viêm - tăng lên. Với “đại thực bào M2”, một loại đại thực bào tham gia tạo mạch máu mới, thay vì tăng về số lượng, chúng cho thấy sự thay đổi tính chất theo hướng thúc đẩy phát triển mạch máu.
Song song với biến đổi của hai nhóm tế bào này, kiểu hình biểu hiện gene của tế bào mạch máu cũng thay đổi. Đường truyền tín hiệu giữa tế bào mạch máu và tế bào cơ cũng được xác nhận là mạnh hơn. Nhóm nghiên cứu cho rằng những thay đổi này có thể liên quan đến hiện tượng cơ bàng quang co thắt quá mức.
Trước đây cũng đã có nghiên cứu quan sát viêm bàng quang kẽ ở cấp độ tế bào. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đơn bào trước đó không ghép cặp so sánh vùng trông bình thường trong bàng quang của cùng bệnh nhân với vùng có tổn thương Hunner. Các nghiên cứu phân tích đồng thời phản ứng tự miễn, biến đổi mạch máu, co cơ và tín hiệu đau cũng hiếm.
Nghiên cứu lần này so sánh hai vùng trong cùng một bệnh nhân. Nhờ đó, có thể giảm ảnh hưởng từ khác biệt đặc tính giữa các bệnh nhân và theo dõi biến đổi tế bào liên quan đến quá trình tổn thương nặng lên.
Thần kinh không có gì bất thường, vậy vì sao lại đau đến vậy?
Bệnh nhân viêm bàng quang kẽ không có bất thường đặc biệt ở hệ thần kinh. Dù vậy, họ vẫn than phiền đau mạn tính dữ dội. Nghiên cứu lần này cũng đưa ra manh mối cho câu hỏi đó.
Một nhóm nguyên bào sợi nhất định trong bàng quang cho thấy các đường tín hiệu tương tự tế bào thần kinh được hoạt hóa mạnh. Những tế bào này liên tục trao đổi tín hiệu với tế bào cơ. Nhóm nghiên cứu nêu khả năng tương tác này có thể góp phần làm tăng cảm giác đau.

Giáo sư Ko Kwang-jin nói: “Điều có ý nghĩa lớn là chúng tôi đã phân tích một cách có hệ thống bệnh viêm bàng quang kẽ ở cấp độ tế bào, và trực tiếp chứng minh từ mô của bệnh nhân rằng mạng lưới hữu cơ giữa các tế bào là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh”, đồng thời cho biết “đây sẽ là nền tảng quan trọng để phát hiện các đích điều trị mới trong tương lai”.
Giáo sư Kang Min-yong xem thành quả này là bàn đạp cho phát triển phương pháp điều trị. Ông nhấn mạnh: “Bằng cách kết hợp các công nghệ hệ gene tiên tiến nhất, chúng tôi đã mô tả môi trường vi mô bên trong bàng quang của bệnh nhân viêm bàng quang kẽ như một bản đồ”, và “khi đã tìm ra các tế bào và đường tín hiệu cụ thể gây co thắt quá mức bàng quang và đau vùng chậu, chúng tôi kỳ vọng điều này sẽ dẫn tới phát triển phương pháp điều trị dạng chặn nguyên nhân căn cơ cho bệnh nhân viêm bàng quang kẽ khó trị trong tương lai”.
Đã tìm ra ứng viên đích điều trị nhưng con đường phía trước vẫn còn dài
Nghiên cứu lần này nhận hỗ trợ kinh phí nghiên cứu quốc gia từ Bộ Khoa học và ICT, Quỹ Nghiên cứu Quốc gia, Bộ Y tế và Phúc lợi, Viện Phát triển Công nghiệp Y tế Hàn Quốc, và Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng.
Tuy vậy, nghiên cứu vẫn có hạn chế. Mô bàng quang toàn lớp chỉ có thể lấy qua phẫu thuật, nên việc thu thập rất khó. Đây là lý do số bệnh nhân dùng cho phân tích, đặc biệt là số đối chứng bình thường, không nhiều. Bản thân các tế bào thần kinh truyền tín hiệu đau cũng không được phát hiện trong mô, nên nhóm chưa thể quan sát trực tiếp cơ chế đau đến cấp độ tế bào thần kinh.
Nhận thức được hạn chế này, nhóm nghiên cứu đã kiểm chứng lại các kết quả chính bằng dữ liệu phiên mã không gian độ phân giải cao từ dữ liệu bệnh nhân công khai, cùng dữ liệu tự thu thập của 3 bệnh nhân và 3 đối chứng. Tuy nhiên, không phải mọi kết quả đều được tái hiện giống hệt. Tín hiệu gene liên quan đến đau ở một số bộ dữ liệu bên ngoài không cho thấy khác biệt rõ rệt về mặt thống kê.
Một hạn chế khác cũng được nêu ra. Kết quả lần này đến từ nghiên cứu quan sát, theo dõi biểu hiện gene của tế bào và tín hiệu giữa các tế bào. Nhóm chưa kiểm chứng bằng thí nghiệm tế bào hoặc thí nghiệm trên động vật rằng khi thực sự chặn tín hiệu “EDN1” hoặc tín hiệu nguyên bào sợi làm tăng đau, thì co thắt bàng quang hay đau có thật sự giảm hay không. Nhóm nghiên cứu cũng để đây là nhiệm vụ cho bước tiếp theo. Vì vậy, để phát triển thuốc điều trị vẫn còn nhiều giai đoạn cần vượt qua.
Dù vậy, rõ ràng là với bản chất của cơn đau vốn lâu nay bị xem là “không rõ nguyên nhân”, nay đã có thêm những ứng viên cụ thể để nhắm tới. Đó là tế bào Th17 dẫn dắt viêm, đại thực bào làm tăng sinh mạch máu bất thường, tín hiệu EDN1 gây co cơ, và tín hiệu giống thần kinh của nguyên bào sợi làm tăng đau. Với những bệnh nhân đã phải chịu đựng cơn đau trong thời gian dài mà không có lời giải rõ ràng, việc xuất hiện bốn hướng ứng viên này tự thân đã là một thông tin đáng mừng.
