Con người là động vật ăn thịt hay động vật ăn cỏ? Với câu hỏi này, đa số sẽ tự tin trả lời: “Không phải ăn thịt cũng không phải ăn cỏ, mà là động vật ăn tạp”, và hầu như không chút nghi ngờ.
Vì sao? Vì họ đang sống như vậy. Nhưng đó chỉ là kết luận rút ra từ việc quan sát thói quen ăn uống của bản thân và những người xung quanh. Còn cơ thể con người thực sự có phải động vật ăn tạp hay không, muốn trả lời chính xác thì cần xem xét kỹ cấu trúc giải phẫu của cơ thể.
Một cách khách quan để biết loại thực phẩm phù hợp với con người là so sánh xem các đặc điểm giải phẫu và sinh lý của con người giống với loài động vật nào khác 1, 2. Khác biệt về giải phẫu giữa động vật ăn thịt (Carnivore), động vật ăn tạp (Omnivore) và động vật ăn cỏ (Herbivore) như sau.
1. Miệng
Các loài ăn thịt như sư tử, hổ, sói và các loài ăn tạp như gấu, gấu mèo, chó có thể há miệng rất rộng so với kích thước đầu để tóm và cắn chết con mồi 3. Sư tử có thể há miệng tối đa 28cm 4, chó trung bình có thể há khoảng 10cm/ 5, còn con người trung bình khoảng 5cm 6.
Các loài ăn cỏ như thỏ, hoẵng, hươu, dê, cừu có miệng tương đối nhỏ. Con người cũng có miệng nhỏ nên gần với động vật ăn cỏ. Động vật ăn cỏ có cơ mặt phát triển tốt, môi dày và lưỡi nhiều cơ, giúp thức ăn đã được răng nghiền trộn đều với nước bọt. Con người cũng vậy 7.
2. Khớp thái dương - hàm
Khớp thái dương - hàm của động vật ăn thịt và ăn tạp là dạng khớp bản lề đơn giản (hinge-type joint), nằm gần như cùng mặt phẳng với răng, nên lực cắn và lực cắt rất mạnh và ổn định. Vì vậy, nó có vai trò khống chế con mồi đang vùng vẫy hoặc nghiền vỡ xương. Khi động vật ăn thịt khép hàm, các răng hoạt động như một cặp lưỡi dao, cắt con mồi rất mạnh 8.
Khớp thái dương - hàm của động vật ăn cỏ nằm cao hơn nhiều so với mặt phẳng răng để tạo biên độ vận động lớn hơn khi nhai. Dạng khớp này kém ổn định hơn khớp bản lề của động vật ăn thịt, nhưng thuận lợi cho vận động trước - sau và trái - phải, cho phép các động tác hàm phức tạp cần thiết khi nhai thức ăn giàu chất xơ như thực vật. Xương hàm dưới (mandible, xương hàm dưới) của động vật ăn cỏ khi ăn có chuyển động trái - phải rõ rệt; vận động bên này là điều bắt buộc cho động tác nghiền và xay (crush and grind) thức ăn, và con người cũng như vậy.


Hãy nghĩ về thời gian ăn của mèo (động vật ăn thịt) và chó (động vật ăn tạp). Chúng không nhai kỹ mà nuốt chửng thức ăn. Nhưng nếu quan sát thỏ hay hươu là động vật ăn cỏ, sẽ thấy chúng nhai rất lâu trước khi nuốt, giống con người.
3. Răng
Răng cửa (incisor) của động vật ăn thịt và ăn tạp ngắn, sắc, dạng hình nón nhọn (peg-shaped), dùng để giữ và cắt con mồi. Răng cửa của động vật ăn cỏ rộng và dẹt, dạng cái xẻng (spade-shaped), khớp với nhau, thuận lợi cho việc bóc vỏ, cắt và cắn xé trái cây. Răng cửa của con người tương tự động vật ăn cỏ 9.
Răng nanh (canine) của động vật ăn thịt rất dài, nhọn và sắc như dao để xuyên vào con mồi, gây đòn chí mạng vào động mạch lớn hoặc cơ quan nội tạng. Ở động vật ăn tạp, răng nanh ngắn hơn một chút so với động vật ăn thịt nhưng vẫn đáng gờm để cắn giữ và xé con mồi. Răng nanh của động vật ăn cỏ nhỏ và tù, không mang tính đe dọa, và hoạt động giống răng cửa.
Hãy nhìn bức ảnh dưới đây. Răng nanh của chúng ta gần với loài nào?

Răng hàm của động vật ăn thịt và ăn tạp gồm răng tiền cối (premolar, răng hàm nhỏ hoặc răng hàm trước) và răng cối (molar, răng hàm lớn hoặc răng hàm sau) có dạng tam giác, cấu trúc khớp cắn trên - dưới như kéo, tạo tác dụng cắt sắc thức ăn.
Ngược lại, răng hàm của động vật ăn cỏ và con người có dạng hình vuông, mặt nhai dẹt nên không thể cắt; trên bề mặt nhai có các gờ nhô và hõm, giúp di chuyển theo phương ngang để nghiền và xay (crush and grind) thức ăn, đóng vai trò như cối giã và cối xay 10. Cấu trúc giải phẫu khoang miệng của con người gần với động vật ăn cỏ hơn là động vật ăn thịt hay ăn tạp.
Tiến sĩ y khoa Song Mu-ho, chuyên khoa phẫu thuật chỉnh hình và y học lối sống

Tài liệu tham khảo
1. RPA https://www.rpaforall.org/animal-abuse-its-why-we-suffer/the-comparative-anatomy-of-eating/
2. MR Mills. The comparative anatomy of eating. ecologos. org. 1996 [Accessed 12 Febraury 2016].
3. J Bourke, S Wroe, K Moreno, et al. Effects of gape and tooth position on bite force and skull stress in the dingo (Canis lupus dingo) using a 3-dimensional finite element approach. PLoS One 2008;3(5):e2200.
4. Britannica https://kids.britannica.com/students/article/lion/275490
5. M Gracis, E Zini. Vertical Mandibular Range of Motion in Anesthetized Dogs and Cats. Front Vet Sci 2016;3:51.
6. Cleveland Clinic https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/24086-trismus
7. SW Herring, SE Herring. The Superficial Masseter and Gape in Mammals. The American Naturalist 1974;962(108):561-576.
8 K Schwenk. Feeding: form, function and evolution in tetrapod vertebrates. Academic Press, 2000.
9. S Hillson. Teeth. Cambridge University Press, 2005.
10. PS Ungar. Mammalian dental function and wear: A review. Biosurface and Biotribology 2015;1(1):25-41.
